AHPC- GIẢM TÁC DỤNG PHỤ CỦA HÓA TRỊ, XẠ TRỊ

Hơn một nửa số người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư đều phải trải qua quá trình hóa trị, xạ trị. Điều này có nghĩa hàng chục triệu trẻ em và người lớn trải qua hóa trị, xạ trị mỗi năm với các loại thuốc được dùng để tiêu diệt tế bào ung thư, những loại thuốc này cũng phá hủy các tế bào khỏe mạnh gây ra nhiều tác dụng phụ nguy hiểm.

 

AHPC là một chiết xuất của nấm đảm, được sử dụng như một thực phẩm bổ sung bởi một số bệnh nhân ung thư điều trị bằng hóa trị, xạ trị. Với thành phần là các oligosaccharide, bao gồm các α-1,4-glucan và một phần các α-1,4-glucan được acetyl hóa với trọng lượng phân tử trung bình là 5 kDa, được cho là tăng cường hiệu quả điều trị và giảm tác dụng phụ của quá trình hóa trị, xạ trị.

Nghiên cứu 1:

Tác dụng việc giảm nhẹ các tác dụng phụ do thuốc chống ung thư ở chuột không có khối u của hợp chất tương quan hexose (AHPC)

AHPC được báo cáo là làm tăng tác dụng chống ung thư của (CDDP) và cải thiện các tác dụng phụ của thuốc này ở chuột BALB/cA cái được tiêm tế bào ung thư Colon-26. Trong nghiên cứu này, chúng ta tìm hiểu vai trò của AHPC trong việc giảm nhẹ các tác dụng phụ trong hóa trị liệu gây ra do nhiều thuốc chống ung thư khác ở chuột không có khối u được áp dụng chỉ một phương pháp trị liệu bằng (TAX), hoặc hóa trị liệu đa thuốc với TAX kết hợp CDDP, CDDP kết hợp 5FU,

Việc cung cấp AHPC làm giảm sự tăng thể trọng do TAX, chứng tỏ AHPC có thể cải thiện rối loạn này.

Tác dụng gây độc gan và thận

Các mức AST và ALT huyết thanh tăng đáng kể ở nhóm TAX độc lập (p<0.05 so với nhóm đối chứng). Cung cấp AHPC làm giảm cả hai mức, với ALT giảm có ý nghĩa thống kê (p<0.05)

Ở người, điều trị bằng CDDP có thể dẫn đến rối loạn chức năng thận, đây là một yếu tố hạn chế liều. Trong nghiên cứu này, các thông số chức năng thận là BUN và creatinine huyết thanh tăng đáng kể ở cả hai nhóm được điều trị bằng CDDP so với nhóm đối chứng (p<0.05). Việc cung cấp AHPC làm giảm mức BUN và creatinine huyết thanh, và có sự chênh lệch đáng kể ở cả mức BUN và creatinine đo được.

Mất tủy xương và tỷ lệ tử vong

Toàn bộ các nhóm điều trị bằng cách kết hợp hai thuốc chống ung thư điều bị mất tủy xương đáng kể khi đo số lượng hồng cầu và khả năng sống sót tế bào tủy xương (p<0.01 so với nhóm đối chứng). Việc bổ sung AHPC làm tăng đáng kể sự giảm số lượng hồng cầu ở tất cả các nhóm ngoại trừ nhóm TAX + CDDP.

Các thuốc gây chết 20-30% động vật chỉ được cung cấp (các) thuốc chống ung thư, ngoại trừ đối với nhóm TAX + CDDP, và việc bổ sung AHPC làm giảm hoặc hạn chế tỷ lệ tử vong. 

 

Kết Luận

AHCC cải thiện đáng kể độc tính trên gan, thận, tình trạng mất tủy xương và tỷ lệ tử vong, và biểu hiện khả năng làm giảm mức độ nghiêm trọng của chứng táo bón. Nếu các kết quả này được mở rộng ở người, AHCC có thể góp phần cải thiện chất lượng sống và tinh thần của các bệnh nhân ung thư chịu hóa trị liệu.

 

Nghiên cứu 2:

Tác dụng của hợp chất tương quan hexose hoạt tính trong việc điều chỉnh rụng lông do cytosine arabinoside, và tổn thương gan do 6-MP và MTX ở động vật gặm nhấm

Cytosine arabinoside (, Ara-C, một loại thuốc gây độc tế bào đặc hiệu vòng tế bào có khả năng tiêu diệt chọn lọc các tế bào trong pha S) đã được sử dụng như một thuốc hóa trị liệu trong điều trị ung thư bạch cầu tủy bào cấp tính hoặc ung thư bạch cầu lymphoid cấp tính ở người, một số bệnh ung thư đầu và cổ, và u lympho không Hodgkin (NHL), và hiệu quả của thuốc này đi kèm với các tác dụng gây độc tế bào trên các gốc gây hại trong quá trình tự tái sinh. Ara-C gây ra nhiều tác dụng phụ như mệt mỏi, chán ăn, tiêu chảy, loét miệng, buồn nôn và ói, mất tủy xương, và rụng lông (rụng tóc).

(MTX) và (6-MP) được sử dụng để điều trị ung thư bạch cầu lymphoid cấp tính và các bệnh lý ác tính khác.Chất chuyển hóa gây độc tế bào quan trọng nhất của MTX và 6-MP là các MTX polyglutamate và 6-TGN , tương ứng. 6-MP và một số chất chuyển hóa của nó được xúc tác bởi thiopurine methyltransferase thành các chất chuyển hóa được methyl hóa, một số các chất này là các chất ức chế mạnh quá trình tổng hợp purine de novo.  Việc cung cấp thuốc kéo dài có thể gây tích lũy các MTX polyglutamate trong khi làm giảm mức folate có thể tự tích lũy thành mức cao và đóng góp vào gây độc gan do MTX

 

Kết quả:

Với chuột được điều trị bằng Ara-C: 71.4% biểu hiện tình trạng rụng lông nghiêm trọng và 28.6% rụng lông nhẹ. Tuy nhiên, nhóm Ara-C được điều trị bằng AHPC được bảo vệ đáng kể khỏi tình trạng rụng lông.

Các chuột được điều trị bằng Ara-C biểu hiện tình trạng mất nang lông hoàn toàn nhưng nhóm được điều trị bằng Ara-C cộng AHPC bị mất nang lông nhẹ.

Việc bổ sung AHPC cho chuột được điều trị bằng 6-MP và MTX làm tăng đáng kể thể trọng, hồng cầu, bạch cầu và albumin huyết thanh, cải thiện chứng phì đại và thoái hóa gan, bình thường hóa các hoạt tính của glutamic oxaloacetic transaminase (sGOT) trong huyết thanh và glutamic pyruvic transaminase (sGTP) trong huyết thanh, và tăng cường các enzyme trao đổi thuốc.

GST: glutathione S-transferase; AHH: arylhydrocarbon hydroxylase; PNPH: p-nitrophenol hydroxylase; PROD: pentoxyresorufin o-dealkylase.

Các giá trị được trình bày dạng giá trị trung bình ± SD của mỗi nhóm trong 6 nhóm chuột.

* sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với nhóm được điều trị bằng 6-MP + MTX được biểu thị với p<0.05.

** sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với nhóm được điều trị bằng 6-MP + MTX được biểu thị với p<0.01.

(normal: bình thường

Necrosis, heavy vacuolar degeneration: hoại tử, thoái hóa không bào nặng

light vacuolar degeneration: thoái hóa không bào nhẹ)

 

Kết luận:

Việc cung cấp đồng thời AHPC làm giảm đáng kể các tác dụng phụ đi kèm với Ara-C, 6-MP và MTX. Rõ ràng việc bổ sung AHCC vào chế độ dinh dưỡng để bảo vệ chống lại các tác dụng phụ của hóa trị liệu là hoàn toàn cần thiết.

 

Nghiên cứu 3:

Tác dụng của hợp chất Hợp chất tương quan hexose hoạt tính (AHPC) trong hóa trị liệu và các tác dụng phụ đối với chuột mang khối u (ung thư)

Khả năng hạn chế các tác dụng phụ từ thuốc hóa trị trong quá trình hóa trị của hợp chất AHPC đã được đánh giá trên các chuột BALB/cA có mang khối u dựa trên cơ sở khả năng cải thiện tình trạng giảm cân, biếng ăn, độc tố trong thận và máu do điều trị bằng hóa trị

Mặc dù (dùng liều 8mg/kg thể trọng) làm giảm kích thước và trọng lượng các khối u rắn, bổ sung hợp chất AHPC cải thiện đáng kể tác dụng kháng u trong quá trình hóa trị cả về kích thước (pb0.05) và trọng lượng (pb0.05).

Lượng thức ăn tiêu thụ ở nhóm chuột được điều trị bằng hóa trị bị giảm ngay sau khi điều trị và tiếp tục ở mức thấp khi so với nhóm chuột không bị điều trị bằng hóa trị (nhóm đối chứng) trong suốt giai đoạn tiến hành thử nghiệm.

Nồng độ nitơ urê trong máu (BUN) và creatinine trong huyết thanh, và tỉ lệ BUN/creatinine trong huyết thanh đã gia tăng rất đáng kể ở nhóm chỉ điều trị bằng hóa trị so với nhóm đối chứng. Các mức độ gia tăng này đã thuyên giảm khi có bổ sung AHPC (100mg/kg thể trọng) vào nhóm điều trị bằng hóa trị.

Nhóm

BUN (mg/dl)

Creatinine (mg/dl)

BUN/creatinine

Đối chứng

18.8±3.1

0.86±0.04

21.9±3.9

Hóa trị

26.3±5.1*

0.97±0.05*

27.0±5.1

Hóa trị +AHPC

22.0±2.5

0.87±0.07**

25.4±1.4

 

AHPC cũng có khả năng giúp điều chỉnh sự ức chế tủy xương do hóa trị và sự cải thiện này rất đáng kể qua số liệu được ghi nhận. Xét nghiệm mô bệnh học ở thận cho thấy có tác hại do hóa trị gây ra trong quá trình hóa trị và tác hại này đã được điều chỉnh nhờ bổ sung AHPC.

Khả năng của AHPC trong việc cải thiện độc tố do hóa trị sản sinh cũng như các tác dụng phụ của quá trình hóa trị rõ ràng mang lại nhiều lợi ích cho các bệnh nhân phải hóa trị liệu

 

Nghiên cứu 4:

Tác dụng của AHPC ở phụ nữ điều trị hóa trị cho ung thư vú

Trong số các phụ nữ ở Nhật Bản, ung thư vú là khối u ác tính phổ biến nhất. Thuốc anthracycline và taxanes được sử dụng làm hóa trị liệu đầu tiên trong điều trị những bệnh nhân này, cả hai đều có độc tính và tác dụng phụ đáng kể, bao gồm buồn nôn, nôn, rụng tóc, xương ức chế tủy, nhiễm độc gan, độc tính tim, bệnh thần kinh ngoại vi và rối loạn lipid. Tác dụng phụ nghiêm trọng có thể cảnh báo ngừng hoặc trì hoãn hóa trị. Hơn nữa, những tác dụng phụ này có thể có tác động xấu đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe.

Phân tích hồi cứu 41 bệnh nhân nữ, tuổi từ 31 đến 61, người đã trải qua hóa trị liệu bổ trợ, bao gồm anthracyclines và taxanes, cho ung thư vú tại Nagumo Clinic ở Tokyo trong 7 năm. Mỗi bệnh nhân đã uống tổng cộng 1,0 g AHPC uống sau mỗi bữa ăn.

Bệnh nhân sử dụng AHPC có ít tác dụng phụ liên quan đến TG hơn bệnh nhân không sử dụng AHPC (5,5% ở nhóm AHPC và 34,6% ở nhóm chứng, p = 0,054). Bệnh nhân sử dụng AHPC cũng có ít tác dụng phụ hơn với T-Chol so với nhóm bệnh nhân không sử dụng AHPC (5.5% ở nhóm AHPC và 17.3% ở nhóm chứng, p = 0.363).

AHPC ức chế mức độ corticosterone trong huyết thanh tăng lên do stress oxy hóa. Có thể suy đoán rằng AHPC cải thiện bất thường lipid thông qua điều chỉnh mức độ corticosterone trong huyết thanh bị ảnh hưởng bởi thuốc chống ung thư. Dữ liệu cho thấy AHPC có thể cải thiện những bất thường lipid thấy ở những bệnh nhân ung thư vú đang trải qua hóa trị.

Ngoài ra, AHPC cải thiện ức chế tủy xương được điều trị bằng một số loại thuốc chống ung thư, bao gồm adriamycin và cyclophosphamide. Những kết quả này cho thấy AHPC có khả năng tăng số lượng bạch cầu trung tính trong quá trình ức chế tủy xương. AHPC có thể cải thiện chất lượng sống ở bệnh nhân ung thư vú thông qua việc giảm các tác dụng phụ.

Kết luận:

AHPC có khả năng cải thiện giảm bạch cầu do việc sử dụng hóa trị liệu trong điều trị ung thư vú và giảm sử dụng G-CSF trong quá trình điều trị, đồng thời có thể làm giảm độc tính của hóa trị và sau đó có thể tăng cường liều hóa trị.

 

Nghiên cứu 5:

Hiệu quả của AHPC ở bệnh nhân ung thư vú nữ trải qua hóa trị liệu bổ trợ

Nhóm bệnh nhân nữ ung thư vú nhận hóa trị liệu bổ trợ (taxane, anthracycline) tổng cộng 3,0 g mỗi ngày AHPC hoặc giả dược được uống trong 12 tuần.

Kết quả:

Nhóm AHPC có khuynh hướng giảm bạch cầu trung tính (giảm tỷ lệ, 17,9%) và tần suất sử dụng G-CSF ít hơn trên liệu pháp paclitaxel hàng tuần (tỷ lệ giảm, 2,4%). Cũng không có sự gia tăng đáng kể nào về các tác dụng phụ trong nhóm AHPC.

 

Nghiên cứu 6:

Ailen, sinh năm 1963, đã trải qua phẫu thuật và hóa trị liệu (paclitaxel, adriamycin cộng với cyclophosphamide) được thực hiện tại một bệnh viện ở Nhật Bản.

Sau khi phẫu thuật và hóa trị, bệnh nhân phải tiêu thụ 3g AHPC mỗi ngày trong 9 năm.

Kết quả:

Đối với các dấu hiệu khối u, CEA (giá trị tham chiếu <5,0 ng / mL) không vượt quá mức cơ sở và được cho là xu hướng giảm trong suốt thời gian nghiên cứu.CA15-3 giá trị cao hơn giá trị tham chiếu (≤25.0 U / mL) trong suốt quá trình điều tra thời gian nhưng vẫn tương đối ổn định. Bảng câu hỏi về y tế và lối sống cho thấy rằng lối sống của bệnh nhân, tình trạng sức khỏe và chất lượng cuộc sống (QOL) rất tốt và ít tác dụng của phẫu thuật và hóa trị cho bệnh ung thư vú.

 

Nghiên cứu 7:

Tích hợp thuốc và thay thế dưới dạng hợp chất tương quan Hexose hoạt tính (AHPC) trong quản lý bệnh nhân ung thư đầu & cổ

Ung thư đầu cổ là ung thư các bộ phận đầu cổ, bao gồm: ung thư vòm họng, ung thư tai thái dương, ung thư khoang miệng, ung thư thanh quản, ung thư tuyến nước bọt, ung thư hốc mũi, xoang cạnh mũi, ung thư tuyến giáp.

Nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư ở vùng Đông bắc Ấn Độ, trong đó: 13 bệnh nhân ung thư má, 4 bệnh nhân ung thư lưỡi, 6 bệnh nhân ung thư hầu họng và 2 bệnh nhân ung thư vòm họng. Tất cả các bệnh nhân đều có khối u còn sót lại hoặc tái phát sau khi điều trị chính. Do đó, những bệnh nhân này được điều trị bằng hóa trị liệu giảm nhẹ.

Tất cả các bệnh nhân được sử dụng AHPC 3g chiết xuất khô mỗi ngày vào buổi sáng 3 ngày.

Kết quả:

Tất cả các bệnh nhân dung nạp AHPC tốt mà không có thêm triệu chứng. 20 bệnh nhân cảm thấy tốt và khỏe hơn. Ở hầu hết các bệnh nhân, giấc ngủ đều hơn và bệnh nhân bắt đầu giao tiếp bình thường hơn trước. Hầu như tất cả các bệnh nhân đều có cảm giác ngon miệng hơn sau khi sử dụng AHPC.

16 bệnh nhân cần truyền máu trước các chu kỳ hóa trị, giảm tốc độ giảm huyết sắc tố đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân này và chỉ có 3 bệnh nhân cần truyền máu  trước các chu kỳ hóa trị tiếp theo. Ngoài ra không có bệnh nhân cần truyền máu bổ sung tiểu cầu trong nhóm AHPC so với 3 bệnh nhân trước đó không điều trị bằng AHPC. Ở 22 bệnh nhân giảm rõ rệt các tác dụng phụ của hóa trị liệu như buồn nôn, nôn, cử động/táo bón v.v … đã được ghi nhận, giảm thời gian nằm viện. Buồn nôn giảm từ 7 – 14 ngày xuống còn 3 – 5 ngày khi được điều trị bằng AHPC, chỉ có 2 bệnh nhân phải nhập viện do tiêu chảy khi được điều trị bằng AHPC so với 6 bệnh nhân trước đó chưa điều trị bằng AHPC. Việc CT scan/MRI của khối u nguyên phát cũng như các hạch cổ được thực hiện sau hai tuần khi hoàn thành ít nhất sáu chu kỳ hóa trị. Khối u cũng giảm tiến triển ở 11 bệnh nhân, 8 bệnh nhân căn bệnh đã ổn định.

 

Nghiên cứu 8:

Tác động của AHPC đối với tác dụng chống ung thư, các tác dụng phụ và chất lượng cuộc sống ở những bệnh nhân ung thư biểu mô vòm họng cấp tiến trong suốt quá trình hóa trị cảm ứng

60 bệnh nhân ung thư vòm họng nhận ba chu kỳ hóa trị cảm ứng (chế độ EPF: epirubicin 40 mg/m2 ngày 1, cisplatin 60 mg/m2 ngày 1 và fluorouracil 2,000 mg/m2 ngày 1,8,15) với hoặc không có AHPC 3.6g/ngày (nhóm chứng: 30, nhóm AHPC: 30). Kết quả nghiên cứu có thể được phân tích ở 27 và 26 bệnh nhân trong nhóm chứng và AHPC tương ứng. Các đặc điểm cơ bản của bệnh nhân được cân bằng trong hai nhóm.

Kết quả:

AHPC có thể làm giảm đáng kể tình trạng giảm bạch cầu do hóa trị (giảm bạch cầu, nhóm chứng: 4,86 ​​± 1,00 × 109/L; nhóm AHPC: 5,86 ± 1,26 × 109/L, p = 0,004; giảm bạch cầu, nhóm đối chứng: 2,65 ± 0,76 × 109/L; Nhóm AHPC: 3,42 ± 1,16 × 109/L, p = 0,007). Thêm vào đó, giảm bạch cầu cấp 3 hoặc 4 ở nhóm chứng (nhóm chứng: 11,54%; nhóm AHPC: 0%), sau đó, AHPC giảm độc tính với gan (AST, nhóm chứng: 31,82 ± 13,25 IU/L; nhóm AHPC: 22,15) ± 4.68IU/L, p = 0,038). Hơn nữa, tế bào lympho T CD4+ và CD3+ cao hơn đáng kể ở nhóm AHPC ở chu kỳ thứ ba của hóa trị, so với nhóm chứng.

 

Nghiên cứu 9:

Điều trị ung thư cá nhân cho giai đoạn IV ung thư phổi: Sử dụng kết hợp của hợp chất hoạt hóa tương quan hexose (AHPC) và polysaccharide tập trung genistein

Hợp chất tương quan hoạt hóa hexose (AHPC) và polysaccharide tập trung genistein (GCP) được dùng cho bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi không phải tế bào giai đoạn IV (NSCLC) với di căn xa (M1). AHPC và GCP được tiêu thụ bằng đường uống bằng cách sử dụng đồng thời hoặc tuần tự. 

GCP là một sản phẩm đậu tương có chứa isoflavone aglycone, và genistein là thành phần quan trọng nhất của GCP. GCP có tác dụng chống khối u và chống khối u được tăng cường khi sử dụng GCP cùng với AHPC.

Nghiên cứu theo dõi dài hạn được tiến hành 6 năm và có 42 bệnh nhân NSCLC giai đoạn IV tham gia.

Phác đồ trị liệu hóa trị được lựa chọn (1 hoặc 2 loại thuốc chống ung thư) với liều thấp (60-80% liều chuẩn) được sử dụng. Ngoài ra, gefitinib, nhắm vào thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR), được dùng cho ung thư tuyến do tỷ lệ đáp ứng tốt hơn có liên quan với gefitinib. Liều lượng hàng ngày cho AHPC và GCP là 3-6 g và 1.0-1.3 g, tương ứng.

Thời gian sống thực tế và tỷ lệ sống sót của bệnh nhân trong vòng 1- 5 năm sau khi điều trị:

Sau 1 và 2 năm tỉ lệ sống sót là 80,1% và 54,7%, tương ứng. Tuy nhiên, do sự tiến triển của M1, tỉ lệ sống giảm rõ rệt xuống 28,5%, 7,1% và 2,3% sau 3, 4 và 5 năm điều trị tương ứng. Trong số 42 bệnh nhân, 6 bệnh nhân còn sống, trong khi 36 bệnh nhân đã chết. Thời gian sống trung bình là 25,95 tháng. Kết quả phân tích thống kê sử dụng phương pháp KaplaneMeier tỷ lệ sống tích lũy cho 1, 2, 3, 4, và 5 năm sống sót là 80,6%, 56,8%, 24,3%, 8,1% và 5,4%, tương ứng. Chỉ có 1 bệnh nhân còn sống sau 5 năm điều trị. Thời gian sống trung bình (MST) là 28,26 tháng. 

Tỷ lệ bệnh nhân có điểm QOL của A, B, C, D và E lần lượt là 19%, 21%, 43%, 12% và 5%. Mức độ QOL (A và B) cao hơn đã được quan sát cho 40% bệnh nhân. Tóm lại, các ước tính của MST, tỷ lệ sống tích lũy / OS và QOL cho thấy liệu pháp miễn dịch kết hợp với EBM riêng biệt có hiệu quả đối với NSCLC giai đoạn IV (M1).

Kết luận: AHPC và GCP dẫn đến tăng thời gian sống của bệnh nhân, QOL tốt hơn và giảm tác dụng phụ các hiệu ứng liên quan đến hóa trị ung thư.

Qua các nghiên cứu lâm sàng cho thấy, ngoài tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư, AHPC còn giảm các tác dụng phụ do quá trình hóa trị, xạ trị gây ra. AHPC có thể cung cấp cho người bị bệnh ung thư một phương pháp điều trị kết hợp tự nhiên an toàn để tăng cường, điều hòa lại  hệ miễn dịch, sức đề kháng giúp bệnh nhân có thể điều trị bệnh hiệu quả hơn,chống lại căn bệnh quái ác, cải thiện chất lượng cuộc sống, tâm lý, tinh thần vượt qua bệnh tật hiểm nghèo.

 

 

Amino Up Japan là công ty nghiên cứu, phát minh và sản xuất AHCC duy nhất trên thế giới.

HPC Pharma là đại diện duy nhất của Amino Up Japan tại Việt Nam.

Các sản phẩm của Amino Up Japan đều dựa trên các bằng chứng khoa học được dày công nghiên cứu và kết hợp với các trường đại học và trung tâm nghiên cứu hàng đầu trên thế giới. Nguyên liệu được sản xuất tại nhà máy có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường, đạt tiêu chuẩn GMP, ISO 9001:2008 và ISO 22000:2005.

Chúng tôi cũng khẳng định rằng: “Tại Việt Nam chỉ có một sản phẩm A-HPC là sản phẩm duy nhất được Amino Up ủy quyền và được Bộ Y Tế Việt Nam cấp giấy phép lưu hành trên thị trường. A-HPC là độc quyền phát minh, được sản xuất tại một nhà máy duy nhất của Amino Up tại TP Saporo Nhật Bản”

Giấy phép số: 20622/2014/ATTP-XNCB

Hiện nay, A-HPC đang được các bác sĩ tại một số bệnh viện tin dùng tại Việt Nam như: Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Da liễu Trung ương, Bệnh viện Y Hà Nội, Bệnh viện Trung Ương Huế, Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, Bệnh viện Phổi Trung Ương, Bệnh viện Quốc tế Minh Anh, Bệnh viện 175, Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh viện Đại học Y Dược HCM, Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Đa Khoa Bình Định, Bệnh viện Đa Khoa Quảng Trị, Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An…

THÔNG TIN SẢN PHẨM A-HPC

Thành phần:  AHCC (Active Hexose Correlated Compound) 500mg dạng cốm

Gồm: Chiết xuất hệ sợi nấm Basidiomycete: 45%, Dầu hạt cải hydro hóa: 35%, Dextrin: 12%, Microcrystalline cellulose: 5%, Alpha-cyclodextrin: 3%

Công dụng:

- Hỗ trợ bảo vệ và kích thích hệ miễn dịch trong cơ thể, tăng sức đề kahsng trước tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, virus

- Hỗ trợ giảm nguy cơ u bướu, giảm tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị

- Hỗ trợ bảo vệ gan và giải độc gan

Đối tượng sử dụng:

- Người mắc bệnh do nhiễm khuẩn, nhiễm virus

- Người muốn tăng sức đề kháng, tăng khả năng miễn dịch

- Người đang hóa trị, xạ trị

Cách dùng:

- Tùy theo tình trạng: Ngày uống 1 đến 3 lần, mỗi lần 1-3 viên, lúc bụng đói, trước khi ăn.

- Hỗ trợ giảm nguy cơ u bướu, giảm tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị, nhiễm virus, ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 viên, lúc bụng đói, trước khi ăn.

- Có thể hòa AHPC vào sữa, cháo để sử dụng

Lưu ý:

- Không dùng cho trẻ em và phụ nữ có thai.

- Không dùng đối với người có tiền sử bị dị ứng với nấm mốc, nấm các loại.

- Độ ẩm có thể làm hình thành vón cục do thuộc tính hút ẩm của chế phẩm AHCC-Standard-FC (thành phần của sản phẩm), nhưng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của sản phẩm.

- Không dùng sản phẩm quá hạn sử dụng

Quy cách đóng gói: Viên nang cứng 500mg. Hộp 3 vỉ x10 viên

Bảo quản: Bảo quản khô ráo và thoáng mát

Thời hạn sử dụng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất, hạn dùng ghi trên bao bì.

Sản phẩm này không phải là thuốc không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Nhà sản xuất: Công ty TNHH MTV TW3 – 115 Ngô Gia Tự – TP. Đà Nẵng theo công bố số 20622/2014/ ATTP -XNCB

Thương nhân chịu trách nhiệm Phân phối – marketing: CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM HPC PHARMA

AHPC có nguồn gốc nguyên liệu cùa Amino Up – Nhật Bản

Địa chỉ:   382/19 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, Quận 3, TP.HCM

Điện thoại: Miền Nam 0283.9293.106 – Miền Trung 0236.384.9944 –  Miền Bắc: 0246.2943.748

Hotline: 0905.152.040 – 0905.119.098

Website: www.dieutribenhungthu.com.vn;   www.miendich-ahcc.com