AHPC HIỆU QUẢ TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TUYẾN GIÁP

Tổng quan về ung thư tuyến giáp

Ung thư tuyến giáp là bệnh hay gặp nhất trong ung thư các tuyến nội tiết, chiếm 3,6% các bệnh ung thư nói chung. 

Theo GLOBOCAN 2018, ung thư tuyến giáp đứng hàng thứ 5 trong số các bệnh ung thư ở nữ giới với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 10,2/100.000 dân, đứng hàng thứ 11 chung cho cả 2 giới với 567.233 ca mới mắc và 41071 ca tử vong hàng năm. Tỉ lệ mắc khoảng 3,31/100.000 dân ở cả hai giới và nữ/nam là 3/1. 

Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp cao, đứng hàng thứ 9 với 5418 ca mới mắc, 528 ca tử vong mỗi năm, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 3,52/100.000 dân, đứng thứ 6 ở nữ giới với tỷ lệ 7,8/100.000 dân. 

Phân loại ung thư tuyến giáp:

- Ung thư tuyến giáp thể nhú: Trong ung thư tuyến giáp thể nhú chiếm từ 70-80%, thể này tiến triển chậm và thường hay di căn hạch cổ. Tuy nhiên, không giống như các loại ung thư khác mặc dù có di căn hạch nhưng ung thư tuyến giáp thể nhú vẫn có tiên lượng rất tốt. 

- Ung thư tuyến giáp thể nang: Thể này chiếm từ 10-15% ung thư tuyến giáp. Cũng giống như thể nhú, thể nang có thể di căn hạch cổ nhưng tốc độ tiến triển nhanh hơn và có thể di căn xa vào xương, phổi. 

- Ung thư tuyến giáp thể tủy: Loại ung thư tuyến giáp này chiếm từ 5-10%, liên quan đến di truyền trong gia đình và các vấn đề nội tiết. 

- Ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa: Đây là thể ác tính nhất của ung thư tuyến giáp đồng thời đáp ứng kém với điều trị, chỉ chiếm tỷ lệ dưới 2%.

Có nhiều nguyên nhân gây ung thư tuyến giáp, trong đó phải đề cập đến những nguyên nhân chủ yếu như:

- Do rối loạn hệ miễn dịch: Là nguyên nhân đầu tiên, khi hệ miễn dịch bị rối loạn, chức năng sinh sản sinh ra các kháng thể có tác dụng chống lại sự xâm nhập của các virus, vi khuẩn bị suy giảm. Điều này tạo cơ hội cho các loại vi khuẩn, virus tấn công cơ thể, trong đó có tuyến giáp bị xâm hại, gây ung thư tuyến giáp.

- Nhiễm phóng xạ: Cơ thể người có thể bị nhiễm phóng xạ qua đường tiêu hóa, qua đường hô hấp gây ảnh hưởng đến tuyến giáp.

- Yếu tố di truyền: Thực tế cho thấy khoảng 70% bệnh nhân ung thư tuyến giáp có gia đình có bố mẹ, hoặc người thân mắc bệnh.

- Yếu tố tuổi tác, thay đổi hooc-môn: Ở độ tuổi 30- 50, ở phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2-4 lần so với nam giới. Nguyên nhân nữ giới có nguy cơ mắc bệnh cao hơn là do yếu tố hooc-môn ở phụ nữ kích thích quá trình hình thành bướu ở tuyến giáp, hạch tuyến giáp. Theo thời gian, các bướu này có thể phát triển thành ung thư.

- Do mắc bệnh tuyến giáp: Người bị bệnh bướu tuyến giáp, viêm tuyến giáp, bệnh basedow hoặc hoóc-môn tuyến giáp bị suy giảm sẽ có nguy cơ mắc ung thư tuyến giáp cao hơn những người khác.

- Do tác dụng phụ của một số loại thuốc: Bệnh nhân mắc các bệnh về tuyến giáp sẽ được bác sĩ chỉ định uống i-ốt phóng xạ, chính đây là một yếu tố làm tăng nguy cơ mắc ung thư tuyến giáp.

- Các nguyên nhân khác như bị thiếu i-ốt, uống rượu thường xuyên, hút thuốc lá, thừa cân, béo phì…

Ung thư tuyến giáp ở giai đoạn đầu thường không có những biểu hiện hay dấu hiệu đặc biệt nào để nhận biết. Khi bệnh phát triển, người bệnh có thể tự chẩn đoán lâm sàng thông qua một số biểu hiện:

- Đau cổ, đau họng

- Khó nuốt

- Ho ra máu

- Khàn tiếng, thay đổi giọng nói, gặp khó khăn trong chuyện nói chuyện

- Khối u ở cổ

- Các hạch bạch huyết bị sưng hoặc tuyến giáp mở rộng

AHPC hiệu quả trong hỗ trợ điều trị ung thư tuyến giáp

Có rất nhiều các nghiên cứu khoa học và chứng minh lâm sàng gần đây đã cho thấy AHPC – Hợp chất tương quan hexose hoạt tính, có một vai trò miễn dịch quan trọng trong điều trị ung thư tuyến giáp. Hoạt động của AHPC như là một phản ứng sinh học có khả năng gia tăng mạnh mẽ miễn dịch bẩm sinh và thích ứng hoạt động miễn dịch trong cơ thể. Nghiên cứu cho thấy AHPC có thể kích thích một phản ứng miễn dịch chống lại khối u và tiêu diệt tế bào ung thư.

Nghiên cứu 1: Giảm tác động khó chịu ở một phụ nữ Nhật Bản do sự di căn hạch bạch huyết sau khi cắt bỏ ung thư tuyến giáp nhờ AHPC 

Một người phụ nữ, 57 tuổi. Năm 1977 , người bạn của cô phát hiện một thanh quản bên phải của cô bị sưng. Khi nghi ngờ ung thư tuyến giáp, cô đã tham khảo tại Bệnh viện Đại học Hokkaido. Cô đã cắt bỏ khối u của ung thư tuyến giáp trái vào năm 1979. Sau khi phẫu thuật, cô đã dùng natri L-thyroxine để điều trị. Năm 1990, liệu pháp i-ốt phóng xạ được thực hiện trong bảy ngày. Năm 2005 (45 tuổi), di căn hạch bạch huyết xảy ra. Các bác sĩ đánh giá là một trường hợp không thể phẫu thuật đối với tổn thương di căn gần động mạch vào năm 2007, và liệu pháp i-ốt phóng xạ thứ hai được thực hiện trong bảy ngày. Trong năm 2008, sự co thắt ống thận và giảm lượng tiết nước bọt đã được tìm thấy. Cô nhận thấy sưng xung quanh trong năm 2014 và nhận được xạ trị (70Gy / 35 lần). Vào lúc tám tháng sau bức xạ ung thư cho thấy sự co rút 25% theo ước tính của PET. Từ năm 2016, cô đã dùng AHPC (2g, ba lần / ngày). Sự hài lòng về sức khỏe được ước tính thông qua các triệu chứng, kiểm tra máu và kiểm tra hình ảnh.

Kết quả: Vào ba tuần sau khi dùng AHPC, cô nhận thấy giảm nhẹ sưng ở bên phải và cảm thấy cấu trúc xương đòn trở nên rõ ràng. Herpes viêm miệng đã xảy ra một lần hoặc hai lần một tháng đã gần nhưng không xuất hiện kể từ khi có AHPC. Mặc dù dịch vi-rút cúm xuất hiện tại nơi làm việc vào 2/ 2018, cô vẫn ổn dù không có thuốc chủng ngừa. 

Chúng tôi kết luận rằng AHPC có thể đóng góp vào việc cải thiện khả năng miễn dịch thông qua hỗ trợ dinh dưỡng. Bây giờ, người phụ nữ Nhật Bản 57 tuổi đã cảm nhận được kết quả tốt từ AHPC, giúp giữ thăng bằng trong công việc và cuộc sống của mình.

Nghiên cứu 2: AHPC hỗ trợ điều trị viêm tuyến giáp Hashimoto

Viêm tuyến giáp Hashimoto (HT), còn được gọi là viêm tuyến giáp lymphocytic tự miễn hoặc mãn tính, là loại viêm tuyến giáp phổ biến nhất. Đây là một rối loạn viêm mãn tính của tuyến giáp gây ra bởi kháng thể máu bất thường và các tế bào bạch cầu tấn công và làm hỏng các tế bào tuyến giáp. Kết quả cuối cùng của việc này cái gọi là sự tự hủy hay còn gọi "tự miễn" dẫn đến suy giáp hoặc hoạt động kém của tuyến giáp. Khi nhìn qua kính hiển vi, có một quá trình khuếch tán bao gồm sự kết hợp của sự phá hủy tế bào biểu mô, thâm nhiễm tế bào bạch huyết, và xơ hóa. 

Tỷ lệ mắc bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto gặp trong thực tế chưa được biết nhưng gần bằng với bệnh Basedow (theo thứ tự 0,3 – 1,5 trường hợp trên 1.000 dân mỗi năm). Ngoài viêm tuyến giáp, khoảng 10% hầu hết dân số có kết quả xét nghiệm kháng thể kháng Tg và kháng TPO dương tính trong trường hợp không có bệnh tuyến giáp rõ ràng bằng cách khám thực thể 1-3. 

Hiệu quả của AHPC đối với tình trạng viêm ở tuyến giáp ở bệnh nhân mắc bệnh Hashimoto được đánh giá bằng cách đo nồng độ Anti-TPO trên ví dụ của hai trường hợp. 

Thời gian quan sát là 4 tuần khi Anti-TPO bị nâng cao và mức độ của TSH, FT3 và FT4 bình thường. Anti-TPO là chỉ số kháng thể Thyroperoxidase. Chỉ số Anti-TPO tăng cao trong trường hợp bệnh nhân bị bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto, bệnh Basedow..

Trường hợp 1:  Người phụ nữ, 52 tuổi, bị yếu, mệt mỏi và buồn ngủ. Anti- TPO là 244 IU/mL và TSH, FT3 và FT4 ở mức bình thường. Cô chỉ được điều trị bằng AHPC 4 tuần với 2×500 mg mỗi ngày. Sau 4 tuần Anti-TPO đã được đánh giá. 

Các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm đã cho thấy sự sụt giảm trong Anti- TPO từ 244 đến 156 IU / mL. Chúng tôi cũng đã kiểm tra ảnh hưởng của AHPC đến tế bào NK và Lympho T trước và sau khi bổ sung. Nghiên cứu của chúng tôi đã tiết lộ sự gia tăng của các tế bào NK và lympho T.

Trường hợp 2: Người phụ nữ, 41 tuổi, không có triệu chứng lâm sàng. Cô đã được theo dõi bởi bác sĩ nội tiết vì mức độ bình thường của TSH, FT3 và FT4 nhưng Anti-TPO bị nâng cao. Vào tháng 10 năm 2015 mức độ Anti-TPO là 354,7 IU / mL. Từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016, cô đã được điều trị bởi Liệu pháp Laser mức độ thấp, curcumin, EGCG và vitamin D. Sau giai đoạn này, mức độ của Anti-TPO tăng nhẹ lên 367,6 IU / mL. Sau đó, AHPC đã được thêm vào trị liệu với liều 3 viên nang mỗi ngày một lần (1.000 mg / ngày).

Sau 4 tuần điều trị này, mức độ Anti-TPO giảm từ 367,6 đến 310 IU / mL.

Kết luận: AHPC là một chiết xuất đầy hứa hẹn, làm giảm lượng Anti-TPO ở bệnh nhân Hashimoto khi Anti-TPO tăng và nồng độ TSH, FT3 và FT4 bình thường trong khi các liệu pháp khác là chưa đủ để làm việc đó.

Qua các nghiên cứu, có thể kết luận rằng AHPC có thể đóng góp vào việc cải thiện khả năng miễn dịch thông qua hỗ trợ dinh dưỡng, an toàn để hỗ trợ điều trị ung thư tuyến giáp, ổn định các chỉ số và giúp cơ thể khỏe mạnh hơn, nâng cao chất lượng sống người bệnh.

Amino Up Japan là công ty nghiên cứu, phát minh và sản xuất AHCC duy nhất trên thế giới. 

HPC Pharma là đại diện duy nhất của Amino Up Japan tại Việt Nam. 

Các sản phẩm của Amino Up Japan đều dựa trên các bằng chứng khoa học được dày công nghiên cứu và kết hợp với các trường đại học và trung tâm nghiên cứu hàng đầu trên thế giới. Nguyên liệu được sản xuất tại nhà máy có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường, đạt tiêu chuẩn GMP, ISO 9001:2008 và ISO 22000:2005.

Chúng tôi cũng khẳng định rằng: “Tại Việt Nam chỉ có một sản phẩm A-HPC là sản phẩm duy nhất được Amino Up ủy quyền và được Bộ Y Tế Việt Nam cấp giấy phép lưu hành trên thị trường. A-HPC là độc quyền phát minh, được sản xuất tại một nhà máy duy nhất của Amino Up tại TP Saporo Nhật Bản”

Giấy phép số: 20622/2014/ATTP-XNCB

Hiện nay, A-HPC đang được các bác sĩ tại một số bệnh viện tin dùng tại Việt Nam như: Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Da liễu Trung ương, Bệnh viện Y Hà Nội, Bệnh viện Trung Ương Huế, Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, Bệnh viện Phổi Trung Ương, Bệnh viện Quốc tế Minh Anh, Bệnh viện 175, Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh viện Đại học Y Dược HCM, Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Đa Khoa Bình Định, Bệnh viện Đa Khoa Quảng Trị, Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An…

THÔNG TIN SẢN PHẨM A-HPC

Thành phần:  AHCC (Active Hexose Correlated Compound) 500mg dạng cốm 

Gồm: Chiết xuất hệ sợi nấm Basidiomycete: 45%, Dầu hạt cải hydro hóa: 35%, Dextrin: 12%, Microcrystalline cellulose: 5%, Alpha-cyclodextrin: 3%

Công dụng: 

- Hỗ trợ bảo vệ và kích thích hệ miễn dịch trong cơ thể, tăng sức đề kháng trước tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, virus

- Hỗ trợ giảm nguy cơ u bướu, giảm tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị

- Hỗ trợ bảo vệ gan và giải độc gan

Đối tượng sử dụng:

- Người mắc bệnh do nhiễm khuẩn, nhiễm virus

- Người muốn tăng sức đề kháng, tăng khả năng miễn dịch

- Người đang hóa trị, xạ trị

Cách dùng:

- Tùy theo tình trạng: Ngày uống 1 đến 3 lần, mỗi lần 1-3 viên, lúc bụng đói, trước khi ăn.

- Hỗ trợ giảm nguy cơ u bướu, giảm tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị, nhiễm virus, ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 viên, lúc bụng đói, trước khi ăn.

- Có thể hòa AHPC vào sữa, cháo để sử dụng

Lưu ý:

- Không dùng cho trẻ em và phụ nữ có thai.

- Không dùng đối với người có tiền sử bị dị ứng với nấm mốc, nấm các loại.

- Độ ẩm có thể làm hình thành vón cục do thuộc tính hút ẩm của chế phẩm AHCC-Standard-FC (thành phần của sản phẩm), nhưng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của sản phẩm.

- Không dùng sản phẩm quá hạn sử dụng

Quy cách đóng gói: Viên nang cứng 500mg. Hộp 3 vỉ x10 viên

Bảo quản: Bảo quản khô ráo và thoáng mát

Thời hạn sử dụng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất, hạn dùng ghi trên bao bì.

Sản phẩm này không phải là thuốc không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Nhà sản xuất: Công ty TNHH MTV TW3 – 115 Ngô Gia Tự – TP. Đà Nẵng theo công bố số 20622/2014/ ATTP -XNCB

Thương nhân chịu trách nhiệm Phân phối – marketing: CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM HPC PHARMA

AHPC có nguồn gốc nguyên liệu cùa Amino Up – Nhật Bản

Địa chỉ:   382/19 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, Quận 3, TP.HCM

Điện thoại: Miền Nam 0283.9293.106 – Miền Trung 0236.384.9944 -  Miền Bắc: 0246.2943.748

Hotline: 0905.152.040 – 0905.119.098

Website: www.dieutribenhungthu.com.vn;   www.miendich-ahcc.com