AHPC HIỆU QUẢ TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ

Theo Bộ Y tế, ung thư vú là căn bệnh ung thư phổ biến ở phụ nữ Việt Nam và hầu hết các nước trên thế giới. Theo thống kê của tổ chức Ghi nhận ung thư toàn cầu (GLOBOCAN) năm 2018, mỗi năm nước ta có 164.671 ca mắc mới ung thư, trong đó ung thư vú là 15.229 ca (chiếm tỷ lệ 9,2%).

 

Hợp chất tương quan hoạt hóa hexose (AHPC) là một chiết xuất lên men được chế biến từ sợi nấm của nấm Basidiomycete (Lentinula edodes) đã được đề xuất là có nhiều lợi ích cho sức khỏe qua tác dụng điều hòa miễn dịch và chống ung thư vú.

Nghiên cứu 1:

AHPC kiểm soát mir-155 thông qua cơ chế tế bào gốc qua trung gian trong ung thư

miRNA: điều tiết biểu hiện gen, tham gia vào các quá trình sinh lý và bệnh lý của cơ thể (sự hình thành, phát triển, biệt hoá và thậm chí là cái chết của tế bào). Chính vì vậy, sự biến đổi của miR, sự rối loạn chức năng của quá trình sinh tổng hợp miR hoặc sự rối loạn biểu hiện của miR có thể gây ra nhiều loại ung thư. miR-155 là loại đặc trưng cho khối u ở vú.

Chuột Balb được cho ăn AHPC (1g / kg).

MiR-155 gây ung thư đã được tìm thấy là giảm đáng kể quy định trong huyết tương của những con chuột được cho ăn AHPC. Trong nghiên cứu tế bào kháng thuốc, miR-155/TLR4 được phát hiện là được điều chỉnh trong các tế bào ung thư vú hóa trị. Đặc biệt, sự biểu hiện của miR-155 cao hơn trong các tế bào MCF7/Dox và MDA-MB-231 so với các tế bào mẹ MCF7. Biểu hiện tăng này tương quan với mức độ cao của TLR4 và protein kháng P-gp. Tuy nhiên, việc điều trị các tế bào ung thư vú kháng với AHPC làm giảm mức độ viêm miR-155 cũng như TLR4 và protein kháng P-gp. Để điều tra thêm về mối quan hệ giữa miR155 / TLR4, siRNA được sử dụng để làm im lặng TLR4. Kết quả là, các mức miR-155 và TLR4 đã giảm cho thấy mối tương quan trực tiếp giữa miR-155 và TLR4.

 

Nghiên cứu 2:

Cơ chế phân tử hoạt động của AHPC đối với sự phát triển và di chuyển tế bào ung thư vú ở người

Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra các tác động của AHPC lên vai trò điều tiết của RNA antisense nội sinh (AS) đối với biểu hiện mRNA tế bào sản xuất erythropoietin A2 (EphA2) trong sự tăng trưởng và di chuyển tế bào ung thư tuyến vú ở người. EphA2 thường được biểu hiện ở mức thấp trong các tế bào biểu mô bình thường, trong khi biểu hiện quá mức của nó đã được phát hiện rộng rãi trong nhiều khối u rắn.

Kết quả:

AHPC ức chế các biểu thức của EphA2 AS / mRNA theo cách tập trung, ức chế sự tăng trưởng và di chuyển của các tế bào ung thư vú ở người. Do đó, những kết quả này đưa ra một tài khả năng chống ung thư biểu mô , đặc biệt, hiệu quả của AHPC bằng cách cung cấp các cơ chế phân tử của hoạt động của nó đối với các RNA điều hòa mã hóa phi protein.

 

Nghiên cứu 3:

Tác dụng của AHPC ở phụ nữ điều trị hóa trị cho ung thư vú

Trong số các phụ nữ ở Nhật Bản, ung thư vú là khối u ác tính phổ biến nhất. Thuốc anthracycline và taxanes được sử dụng làm hóa trị liệu đầu tiên trong điều trị những bệnh nhân này, cả hai đều có độc tính và tác dụng phụ đáng kể, bao gồm buồn nôn, nôn, rụng tóc, xương ức chế tủy, nhiễm độc gan, độc tính tim, bệnh thần kinh ngoại vi và rối loạn lipid. Tác dụng phụ nghiêm trọng có thể cảnh báo ngừng hoặc trì hoãn hóa trị. Hơn nữa, những tác dụng phụ này có thể có tác động xấu đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe.

Phân tích hồi cứu 41 bệnh nhân nữ, tuổi từ 31 đến 61, người đã trải qua hóa trị liệu bổ trợ, bao gồm anthracyclines và taxanes, cho ung thư vú tại Nagumo Clinic ở Tokyo trong 7 năm. Mỗi bệnh nhân đã uống tổng cộng 1,0 g AHPC uống sau mỗi bữa ăn.

Bệnh nhân sử dụng AHPC có ít tác dụng phụ liên quan đến TG hơn bệnh nhân không sử dụng AHPC (5,5% ở nhóm AHPC và 34,6% ở nhóm chứng, p = 0,054). Bệnh nhân sử dụng AHPC cũng có ít tác dụng phụ hơn với T-Chol so với nhóm bệnh nhân không sử dụng AHPC (5.5% ở nhóm AHPC và 17.3% ở nhóm chứng, p = 0.363).

AHPC ức chế mức độ corticosterone trong huyết thanh tăng lên do stress oxy hóa. Có thể suy đoán rằng AHPC cải thiện bất thường lipid thông qua điều chỉnh mức độ corticosterone trong huyết thanh bị ảnh hưởng bởi thuốc chống ung thư. Dữ liệu cho thấy AHPC có thể cải thiện những bất thường lipid thấy ở những bệnh nhân ung thư vú đang trải qua hóa trị.

Ngoài ra, AHPC cải thiện ức chế tủy xương được điều trị bằng một số loại thuốc chống ung thư. Những kết quả này cho thấy AHPC có khả năng tăng số lượng bạch cầu trung tính trong quá trình ức chế tủy xương. AHPC có thể cải thiện chất lượng sống ở bệnh nhân ung thư vú thông qua việc giảm các tác dụng phụ.

Kết luận:

AHPC có khả năng cải thiện giảm bạch cầu do việc sử dụng hóa trị liệu trong điều trị ung thư vú và giảm sử dụng G-CSF trong quá trình điều trị, đồng thời có thể làm giảm độc tính của hóa trị và sau đó có thể tăng cường liều hóa trị.

 

Nghiên cứu 4:

Hiệu quả của AHPC ở bệnh nhân ung thư vú nữ trải qua hóa trị liệu bổ trợ

Nhóm bệnh nhân nữ ung thư vú nhận hóa trị liệu bổ trợ (taxane, anthracycline) tổng cộng 3,0 g mỗi ngày AHPC hoặc giả dược được uống trong 12 tuần.

Kết quả:

Nhóm AHPC có khuynh hướng giảm bạch cầu trung tính (giảm tỷ lệ, 17,9%) và tần suất sử dụng G-CSF ít hơn trên liệu pháp thông thường hàng tuần (tỷ lệ giảm, 2,4%). Cũng không có sự gia tăng đáng kể nào về các tác dụng phụ trong nhóm AHPC.

 

Nghiên cứu 5:

Ailen, sinh năm 1963, đã trải qua phẫu thuật và hóa trị liệu được thực hiện tại một bệnh viện ở Nhật Bản.

Sau khi phẫu thuật và hóa trị, bệnh nhân phải tiêu thụ 3g AHPC mỗi ngày trong 9 năm.

Kết quả:

Đối với các dấu hiệu khối u, CEA (giá trị tham chiếu <5,0 ng / mL) không vượt quá mức cơ sở và được cho là xu hướng giảm trong suốt thời gian nghiên cứu.CA15-3 giá trị cao hơn giá trị tham chiếu (≤25.0 U / mL) trong suốt quá trình điều tra thời gian nhưng vẫn tương đối ổn định. Bảng câu hỏi về y tế và lối sống cho thấy rằng lối sống của bệnh nhân, tình trạng sức khỏe và chất lượng cuộc sống (QOL) rất tốt và ít tác dụng của phẫu thuật và hóa trị cho bệnh ung thư vú.

 

Nghiên cứu 6:

Felia, 73 tuổi

Khi phát hiện có khối u ở ngực nhưng da dẻ vẫn bình thường, mịn và không nổi mẫn đỏ, bệnh nhân quyết định không tiếp nhận điều trị, chỉ ăn chay kèm nhiều rau xanh.

Sau 1 năm, khối u phát triển lớn hơn, da nổi đỏ, ngứa và gây đau, nhưng bệnh nhân vẫn không tiếp nhận điều trị. Đồng thời, bổ sung AHPC với liều 3g/ngày kèm với thuốc chống estrogen (được chỉ định).

Sau 3 năm sử dụng đúng liều lượng, kích thước khối u giảm và có sự cải thiện ở các mô xung quanh.

Qua các nghiên cứu lâm sàng cho thấy, AHPC hỗ trợ trong điều trị ung thư vú, ức chế sự tăng trưởng và di căn của khối u. Đồng thời, AHPC làm giảm tác dụng phụ sau khi phẫu thuật, hóa trị liệu một cách hiệu quả.

Amino Up Japan là công ty nghiên cứu, phát minh và sản xuất AHCC duy nhất trên thế giới.

HPC Pharma là đại diện duy nhất của Amino Up Japan tại Việt Nam.

Các sản phẩm của Amino Up Japan đều dựa trên các bằng chứng khoa học được dày công nghiên cứu và kết hợp với các trường đại học và trung tâm nghiên cứu hàng đầu trên thế giới. Nguyên liệu được sản xuất tại nhà máy có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường, đạt tiêu chuẩn GMP, ISO 9001:2008 và ISO 22000:2005.

Chúng tôi cũng khẳng định rằng: “Tại Việt Nam chỉ có một sản phẩm A-HPC là sản phẩm duy nhất được Amino Up ủy quyền và được Bộ Y Tế Việt Nam cấp giấy phép lưu hành trên thị trường. A-HPC là độc quyền phát minh, được sản xuất tại một nhà máy duy nhất của Amino Up tại TP Saporo Nhật Bản”

Giấy phép số: 20622/2014/ATTP-XNCB

Hiện nay, A-HPC đang được các bác sĩ tại một số bệnh viện tin dùng tại Việt Nam như: Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Da liễu Trung ương, Bệnh viện Y Hà Nội, Bệnh viện Trung Ương Huế, Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, Bệnh viện Phổi Trung Ương, Bệnh viện Quốc tế Minh Anh, Bệnh viện 175, Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh viện Đại học Y Dược HCM, Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Đa Khoa Bình Định, Bệnh viện Đa Khoa Quảng Trị, Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An…

THÔNG TIN SẢN PHẨM A-HPC

Thành phần:  AHCC (Active Hexose Correlated Compound) 500mg dạng cốm

Gồm: Chiết xuất hệ sợi nấm Basidiomycete: 45%, Dầu hạt cải hydro hóa: 35%, Dextrin: 12%, Microcrystalline cellulose: 5%, Alpha-cyclodextrin: 3%

Công dụng:

- Hỗ trợ bảo vệ và kích thích hệ miễn dịch trong cơ thể, tăng sức đề kahsng trước tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, virus

- Hỗ trợ giảm nguy cơ u bướu, giảm tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị

- Hỗ trợ bảo vệ gan và giải độc gan

Đối tượng sử dụng:

- Người mắc bệnh do nhiễm khuẩn, nhiễm virus

- Người muốn tăng sức đề kháng, tăng khả năng miễn dịch

- Người đang hóa trị, xạ trị

Cách dùng:

- Tùy theo tình trạng: Ngày uống 1 đến 3 lần, mỗi lần 1-3 viên, lúc bụng đói, trước khi ăn.

- Hỗ trợ giảm nguy cơ u bướu, giảm tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị, nhiễm virus, ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 viên, lúc bụng đói, trước khi ăn.

- Có thể hòa AHPC vào sữa, cháo để sử dụng

Lưu ý:

- Không dùng cho trẻ em và phụ nữ có thai.

- Không dùng đối với người có tiền sử bị dị ứng với nấm mốc, nấm các loại.

- Độ ẩm có thể làm hình thành vón cục do thuộc tính hút ẩm của chế phẩm AHCC-Standard-FC (thành phần của sản phẩm), nhưng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của sản phẩm.

- Không dùng sản phẩm quá hạn sử dụng

Quy cách đóng gói: Viên nang cứng 500mg. Hộp 3 vỉ x10 viên

Bảo quản: Bảo quản khô ráo và thoáng mát

Thời hạn sử dụng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất, hạn dùng ghi trên bao bì.

Sản phẩm này không phải là thuốc không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Nhà sản xuất: Công ty TNHH MTV TW3 – 115 Ngô Gia Tự – TP. Đà Nẵng theo công bố số 20622/2014/ ATTP -XNCB

Thương nhân chịu trách nhiệm Phân phối – marketing: CÔNG TY TNHH DƯỢC PHẨM HPC PHARMA

AHPC có nguồn gốc nguyên liệu cùa Amino Up – Nhật Bản

Địa chỉ:   382/19 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, Quận 3, TP.HCM

Điện thoại: Miền Nam 0283.9293.106 – Miền Trung 0236.384.9944 –  Miền Bắc: 0246.2943.748

Hotline: 0905.152.040 – 0905.119.098

Website: www.dieutribenhungthu.com.vn;   www.miendich-ahcc.com